Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Thoái hoá khớp: nguồn gốc và cách chữa trị

Bệnh thoái hoá khớp (còn gọi là bệnh hư khớp) là một bệnh mạn tính, gây thoái hoá và biến dạng khớp do sự phá huỷ sụn khớp và hệ thống bao khớp – dây chằng, thường gặp ở các khớp chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể.

 Các thể bệnh hư khớp 

Thoái hoá khớp có biện pháp nguyên phát hoặc thứ phát.

Thoái hoá khớp nguyên phát do lão hoá của mô khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… tạo ra mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất. Bệnh này chỉ gặp ở người trên 4o tuổi.

Khác với thoái hoá khớp nguyên phát, thoái hoá khớp thứ phát thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, hình thành sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ một vài chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…

Những người béo phì cũng thường mắc chứng hư khớp do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Những thể thứ phát này thường trầm trọng hơn những thể nguyên phát. Ngoài ra, một số yếu tố về thời tiết, khí hậu… cũng là điều kiện thuận lợi đối với bệnh xuất hiện  thuoc glucosamine msm.

Thoái hoá khớp nguyên phát ở các khớp được xếp theo thứ tự “ưu tiên” như sau: Khớp liên đốt sống (trên dưới 50% các trường hợp), khớp gối (13%), khớp háng (8%), khớp liên đốt ngón tay (6%) và các khớp khác (20%).

Tổn thương ở khớp bắt đầu từ một số hoại tử của sụn khớp, sau đó là sự phá huỷ hệ thống trượt ở một vài vùng tỳ đè của xương dưới dạng một dải xơ và đường viền xung quanh khớp, các gai xương ở ngoại vi khớp. Bao hoạt dịch dày lên, xuất hiện những đường vân, có khả năng sụn hoá. Sụn hoá của bao hoạt dịch rơi vào ổ khớp gây cản trở đối với hoạt động của khớp. Các xơ co kéo gây nên tình trạng cứng khớp.

Bệnh thoái hoá khớp nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở chúng ta sau khi mãn kinh, nhưng điều nguy hiểm là thoái hoá khớp hầu như không có triệu chứng. Các dấu hiệu chỉ hình thành khi xương và hệ thống bao khớp hoạt dịch bị tổn thương thực sự. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm với những khoảng thời gian được cải thiện theo cảm nhận chủ quan. Thể điển hình, người bệnh đau khớp vào buổi sáng, sau khi ngủ dậy; đau giảm sau khi khớp được hoạt động và hết đau khi nghỉ ngơi. Khớp không sưng và không tưởng các dấu hiệu toàn thân.

Khi khám, phát hiện các dấu hiệu: Hạn chế cử động, các cơ chi phối hoạt động của khớp bị teo và co cứng tăng trương lực; có tiếng lục cục trong khớp khi cử động; có biện pháp sờ thấy đường viền khớp và gai xương. Xét nghiệm đối với thấy: Hoạt dịch trong, quánh, chứa dưới 3.000 bạch cầu/1mm3; và dưới 25% là bạch cầu đa nhân trung tính; tốc độ máu lắng bình thường; chụp Xquang không tưởng sự tương xứng giữa triệu chứng chủ quan và những tổn thương trên phim.

Tuỳ theo giai đoạn có cách thấy hình ảnh hẹp khe khớp với sự phá huỷ một phần hay hoàn toàn sụn khớp, ăn mòn diện khớp ở vùng tỳ đè.

Các dấu hiệu của loãng xương cũng có giải pháp được phát hiện nếu không ngừng nghỉ tin dùng một số biện pháp đặc biệt để phát hiện sớm các tổn thương của khớp, như: chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, soi ổ khớp…

Chẩn đoán thoái hoá khớp dựa vào một vài yếu tố, như: Đau khớp tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi; không tưởng triệu chứng toàn thân như sốt…; một vài dấu hiệu viêm tại chỗ rất ít hoặc không xảy ra; dịch ổ khớp không xảy ra biểu hiện viêm, không có mủ; chụp Xquang thấy hẹp khớp, ăn mòn diện khớp…

Cần lưu ý phân biệt thoái hóa khớp với viêm đa khớp dạng thấp: Viêm khớp tại chỗ rất rõ (sưng, nóng đỏ, đau), dịch ở khớp biểu hiện viêm; tốc độ lắng máu tăng…

 điều trị? 

Nhìn chung tổn thương ổ khớp do hư khớp là không thể biến đổi nhưng tiến triển chậm. Ở những khớp chưa cứng hoàn toàn, việc điều trị có cơ hội giảm được nhưng cản trở có nhiệm vụ.

 Thoái hoá khớp có thể điều trị bằng hai phương pháp: 

- Điều trị nội khoa: Ở thời kỳ đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh toàn bộ những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ đối với khớp.

Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, tương thích.

Để dự phòng một số tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có mẹo hay không ngừng nghỉ sử dụng các loại: Băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới. Thường xuyên dùng Viên, những Viên cơ bản là Viên chống viêm giảm đau, như aspirin và Viên không xảy ra steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…). Những Viên an thần, đặc biệt nhóm diazepam có cơ hội thường xuyên dùng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện  kim nam trang rang.

- Chữa trị ngoại khoa: Có ba loại phẫu thuật được áp dụng: Đó là, phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại hiện tượng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…; Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có mẹo hay sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của có có nhiệm vụ bình thường; Và phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có giải pháp thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.

         BS. Lam Giang – Trung tâm nghiên cứu kỹ kỹ và áp dụng tiến bộ y học VN  
 Tri Thức Trẻ 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét